Làm việc:
Thứ 2–7: 9:00–12:00, 14:00–19:00 | CN: 10:30–13:00
⚠ Xét nghiệm / Thủ thuật: tiếp nhận đến trước 16:00, từ Thứ 2 đến Thứ 7
Ngày Lễ, Tết:
Nghỉ
⚠ Xét nghiệm / Thủ thuật: tiếp nhận đến trước 16:00, từ Thứ 2 đến Thứ 7

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD/STI): các bệnh thường gặp, xét nghiệm và phòng ngừa

24/09/2026
15
Lượt xem

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD/STI) là nhóm nhiễm trùng do vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng, lây chủ yếu qua quan hệ tình dục đường âm đạo, hậu môn hoặc miệng. Phần lớn ca mới mắc không có triệu chứng rõ ràng [1]. Một số bệnh chữa khỏi được bằng thuốc, như giang mai, lậu, chlamydia và Trichomonas; số khác hiện chỉ kiểm soát được, như herpes, HIV và viêm gan B [1]. Vì vậy, đi khám và xét nghiệm theo nguy cơ quan trọng hơn ngồi chờ triệu chứng.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi ngày có hơn 1 triệu ca nhiễm chữa được mắc mới ở người 15–49 tuổi [1]. Bài tổng quan về bệnh lây truyền qua đường tình dục này của Phòng khám Chuyên khoa Da liễu Anh Mỹ là tấm bản đồ: bệnh nào chữa khỏi, bệnh nào chỉ kiểm soát, khi nào nên xét nghiệm và phòng ngừa bảo vệ được đến đâu. Nhiều bệnh trong bài có liên kết tới bài chuyên sâu để bạn đọc thêm.

Trả lời nhanh

  • Không triệu chứng không có nghĩa là không nhiễm. Phần lớn ca mới mắc không có dấu hiệu gì [1].
  • Chữa khỏi được: giang mai, lậu, chlamydia, Trichomonas (bằng thuốc do bác sĩ chỉ định) [1].
  • Chưa có thuốc chữa khỏi hẳn: herpes, HIV, viêm gan B; với HPV, không có thuốc “diệt virus”, điều trị nhắm vào tổn thương [2] [3] [4].
  • Không có một xét nghiệm nào loại trừ được mọi bệnh. Mỗi bệnh có loại xét nghiệm và thời điểm xét nghiệm riêng, do bác sĩ tư vấn.

STD và STI là gì — và vì sao “không có triệu chứng” không có nghĩa là “không nhiễm”?

STD (sexually transmitted disease) và STI (sexually transmitted infection) cùng chỉ một nhóm bệnh. Hướng dẫn của Bộ Y tế dùng tên “bệnh lây truyền qua đường tình dục” [5]; trong đời sống, nhiều người quen gọi là “bệnh xã hội”. Bài này dùng cả hai cách gọi STD và STI. Chữ “nhiễm trùng” nhắc rằng một người có thể đã nhiễm mà chưa có biểu hiện bệnh.

Theo WHO, có 8 tác nhân gây ra phần lớn số ca bệnh [1]:

  • 4 bệnh hiện chữa khỏi được: giang mai, lậu, chlamydia và Trichomonas (trùng roi).
  • 4 bệnh do virus: viêm gan B, virus herpes simplex (HSV), HIV và virus u nhú ở người (HPV).

Vì sao nhiều người nhiễm mà không biết?

WHO ghi nhận phần lớn ca nhiễm mới không có triệu chứng; khi có, triệu chứng thường không đặc hiệu [1]. Một vài ví dụ từ các nguồn chính thức:

  • Giang mai: hầu hết ca nhiễm không có triệu chứng hoặc không được nhận ra [6].
  • Lậu ở nữ: thường không có triệu chứng, hoặc chưa có dấu hiệu nhận biết cho tới khi đã có biến chứng [2] [5].
  • Chlamydia: nhiễm không triệu chứng là thường gặp ở cả nam và nữ [2].
  • Herpes sinh dục: phần lớn ca lây từ người không biết mình đã nhiễm [2].

Điều đáng lo là “không triệu chứng” không đồng nghĩa với “vô hại”. Chlamydia và lậu không điều trị có thể gây viêm vùng chậu (viêm tiểu khung), chửa ngoài tử cung và vô sinh ở nữ; viêm mào tinh hoàn và vô sinh ở nam [2] [5]. Ngoài ra, mắc lậu hoặc chlamydia còn làm tăng nguy cơ nhiễm HIV [7] [8]. Những lý do khiến các bệnh này dễ bị bỏ sót được phân tích ở mục “Triệu chứng nào nên nghi ngờ” bên dưới.

Ngược lại, không phải mọi viêm nhiễm vùng sinh dục đều lây qua tình dục. Chẳng hạn, viêm âm đạo do vi khuẩn và nấm men là nhiễm trùng nội sinh, không lây qua tình dục [9].

Có bao nhiêu người mắc? Số liệu toàn cầu và vì sao chưa có số cho cả nước Việt Nam

Bệnh lây truyền qua đường tình dục rất phổ biến. Tuy vậy, mọi con số dưới đây là ước tính mô hình của WHO và các nhóm nghiên cứu, mỗi con số gắn với một năm và một nhóm tuổi riêng, nên không nên cộng dồn.

BệnhƯớc tínhNăm · nhómNguồn
4 bệnh chữa được (chlamydia, lậu, giang mai, Trichomonas)374 triệu ca mới: chlamydia 129 triệu, lậu 82 triệu, giang mai 7,1 triệu, Trichomonas 156 triệu2020 · 15–49 tuổi[1]
Giang mai (số mới hơn)Khoảng 8 triệu người lớn mắc mới; 1,1 triệu thai phụ nhiễm, dẫn tới hơn 390.000 kết cục thai kỳ bất lợi2022 · 15–49 tuổi[6]
Herpes sinh dục do HSV-2519,5 triệu người mang HSV-2 (13,3%); HSV-1 vùng sinh dục thêm 376,2 triệu (10,2%)2020 · 15–49 tuổi[10]
HPVKhoảng 300 triệu phụ nữ đang nhiễm HPVƯớc tính của WHO[1]
HIV41,0 triệu người đang sống chung với HIVCuối 2025[4]
Viêm gan B mạn240 triệu người2024[3]

Còn Việt Nam thì sao?

Thực tế là chưa có số liệu bệnh lây truyền qua đường tình dục cho dân số chung Việt Nam trong các nguồn chúng tôi đã kiểm chứng. Tài liệu của Bộ Y tế cũng ghi nhận Việt Nam chưa có con số thống kê cụ thể về nhiễm HPV [5]. Các số hiện có chỉ thuộc từng nhóm nhỏ:

  • Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tại 7 tỉnh, giám sát trọng điểm: tỷ lệ giang mai tăng từ 2,7% (2015) lên 12,6% (2020) [11].
  • MSM trong một chương trình dự phòng HIV bằng thuốc (PrEP) ở Hà Nội, 529 người, năm 2022: 28,9% nhiễm chlamydia hoặc lậu, phần lớn ở họng và trực tràng [12].
  • Bệnh viện Da liễu Trung ương, 2016–2019: 5.937 ca lậu và/hoặc chlamydia trong 795.599 lượt khám (0,74%). Đây là số ca chẩn đoán tại một bệnh viện chuyên khoa, không phải tỷ lệ mắc trong cộng đồng [13].

Vì vậy, không thể suy ra “bao nhiêu phần trăm người Việt” mắc bệnh từ các số này; chỉ thấy rằng ở nhóm nguy cơ cao, bệnh không hề hiếm.

Bản đồ các bệnh lây truyền qua đường tình dục: bệnh nào chữa khỏi được, bệnh nào chỉ kiểm soát được?

Cách hữu ích để hiểu bệnh lây truyền qua đường tình dục là chia theo tác nhân. Bệnh do vi khuẩn và ký sinh trùng thường chữa khỏi được bằng thuốc đúng loại. Ngược lại, bệnh do virus hiện chủ yếu là kiểm soát, trừ HPV có đặc điểm riêng. Bảng dưới đây tóm tắt 9 bệnh thường gặp; chi tiết từng bệnh nằm ở hai mục tiếp theo.

BệnhTác nhânChữa khỏi bằng thuốc?Hay không có triệu chứng?Chẩn đoán (nguyên tắc)
Giang maiVi khuẩn (xoắn khuẩn Treponema pallidum)Có, khi điều trị đúng [1]Có: hầu hết ca không triệu chứng hoặc không được nhận ra [6]Cần cả 2 loại xét nghiệm huyết thanh [2] [5]
LậuVi khuẩn (lậu cầu)Có, nhưng kháng thuốc đang tăng nhanh [14]Có, nhất là ở nữ, ở họng và trực tràng [2] [5]Nhuộm Gram, nuôi cấy, xét nghiệm khuếch đại axit nucleic (NAAT/PCR) [5]
ChlamydiaVi khuẩnCó [1] [5]Thường gặp ở cả nam và nữ [2]NAAT; có thể dùng mẫu nước tiểu [15] [5]
Mycoplasma genitaliumVi khuẩnCó, nhưng kháng thuốc tăng; cần xét nghiệm gen kháng [2] [16]Thường gặp [16]NAAT kèm gen kháng thuốc; không sàng lọc người không triệu chứng [2] [16]
Trichomonas (trùng roi)Ký sinh trùngCó [1]Phần lớn ít hoặc không triệu chứng [2]NAAT nhạy hơn soi tươi [2]
Herpes sinh dụcVirus HSV-1, HSV-2Chưa có thuốc chữa khỏi hẳn; thuốc kháng virus giúp kiểm soát [2] [5]Có: phần lớn lây từ người không biết mình nhiễm [2]Khám lâm sàng, xét nghiệm tổn thương [5]
HPV / sùi mào gàVirus HPVKhông có thuốc “diệt HPV”; điều trị nhắm vào tổn thương [2] [5]Hầu hết người nhiễm không có biểu hiện [5]Sùi mào gà: khám lâm sàng; không dùng xét nghiệm HPV để chẩn đoán sùi [17] [5]
HIVVirusChưa chữa khỏi; điều trị kháng virus giúp kiểm soát lâu dài [4]Cần xét nghiệm để phát hiện [2]Xét nghiệm máu; CDC khuyến cáo cho mọi người đến khám STI [2]
Viêm gan BVirusChưa có thuốc chữa khỏi; có vắc-xin phòng [3]Hầu hết người mới nhiễm không triệu chứng [3]Xét nghiệm máu (HBsAg) [2]
Đĩa cấy vi khuẩn và mô hình virus minh họa các nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục
Bệnh do vi khuẩn và ký sinh trùng thường chữa khỏi bằng thuốc; herpes, HIV và viêm gan B hiện chỉ kiểm soát được.

Nhóm bệnh do vi khuẩn và ký sinh trùng: giang mai, lậu, chlamydia, Mycoplasma genitalium, Trichomonas

Năm bệnh trong nhóm này đều điều trị được bằng kháng sinh hoặc thuốc kháng ký sinh trùng đúng loại. Tuy nhiên, hai vấn đề lớn là bỏ sót vì không triệu chứngkháng thuốc tăng dần, nên chẩn đoán đúng tác nhân quan trọng hơn tự uống thuốc “cho yên tâm”.

Giang mai

Giang mai do xoắn khuẩn Treponema pallidum, lây qua quan hệ đường âm đạo, hậu môn, miệng, và có thể lây từ mẹ sang con [5]. Ở giai đoạn sơ phát, dấu hiệu điển hình là một vết loét không đau (săng), nhưng tổn thương có thể nhiều ổ, không điển hình hoặc có đau [2]. Đáng chú ý, săng và ban ở giai đoạn II có thể tự mất dù không điều trị, trong khi bệnh vẫn tiếp tục tiến triển [5]. Giang mai không điều trị có thể tổn thương tim mạch và thần kinh [5].

Chẩn đoán cần cả hai loại xét nghiệm huyết thanh (không đặc hiệu và đặc hiệu); chỉ dùng một loại có thể bỏ sót [2] [5]. Phụ nữ mang thai nên được xét nghiệm giang mai ngay ở lần khám thai đầu tiên [5]. Bạn có thể đọc thêm phần hỏi & đáp về bệnh giang mai.

Lậu

Lậu lây chủ yếu qua quan hệ đường âm đạo, miệng và hậu môn [5]. Nam thường có tiết dịch niệu đạo và tiểu buốt; ngược lại, ở nữ bệnh thường không rõ triệu chứng nên hay bị bỏ sót [5]. Lậu ở họng và trực tràng phần lớn cũng không triệu chứng, và nhiễm ở họng khó điều trị hơn [2] [5].

Bác sĩ chọn xét nghiệm tùy vị trí và điều kiện: nhuộm Gram, nuôi cấy hoặc NAAT/PCR. Nhuộm Gram âm tính chưa đủ để loại trừ lậu, còn nuôi cấy cho biết kháng sinh nào còn hiệu quả [5]. Vì lậu và chlamydia hay đi kèm, khi bị lậu bác sĩ thường xử lý luôn chlamydia, đồng thời đề nghị xét nghiệm giang mai và HIV [5].

Vấn đề đáng quan tâm nhất là kháng thuốc, vốn “tăng nhanh những năm gần đây” theo WHO [14]. Năm 2025, Thái Lan ghi nhận 5 ca lậu kháng một kháng sinh nhóm cephalosporin, đa số từng dùng kháng sinh tự mua [18]. Tại Hà Nội, 30,0% trong 409 chủng lậu giai đoạn 2017–2019 (một bệnh viện) kháng một kháng sinh nhóm macrolide [19]. Vì vậy không nên tự mua kháng sinh khi nghi mắc lậu. Triệu chứng theo giới có trong bài triệu chứng bệnh lậu ở nam và nữ.

Chlamydia

Chlamydia là một trong những nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục hay gặp nhất [5]. Nhiều người nhiễm không có triệu chứng; ở họng hiếm khi có biểu hiện, ở trực tràng phần lớn không có biểu hiện [2] [5]. Khi có, triệu chứng gồm tiết dịch bất thường, tiểu khó, chảy máu khi quan hệ ở nữ, hoặc tiết dịch niệu đạo, đau tinh hoàn ở nam [5].

Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm khuếch đại axit nucleic đã được thẩm định; có thể dùng mẫu nước tiểu hoặc mẫu tự lấy [15] [5]. Chlamydia điều trị khỏi được bằng kháng sinh khi phát hiện sớm và dùng đúng chỉ định [5]. Khi viêm niệu đạo cứ tái đi tái lại, chlamydia và Mycoplasma genitalium là hai tác nhân cần nghĩ tới; bài viêm niệu đạo tái phát phân tích kỹ tình huống này.

Mycoplasma genitalium

Mycoplasma genitalium là vi khuẩn gây khoảng 10–35% ca viêm niệu đạo không do lậu và không do chlamydia ở nam; ở nữ, vi khuẩn này liên quan đến viêm cổ tử cung và viêm vùng chậu [16]. Nhiễm không triệu chứng thường gặp, nhưng các hướng dẫn không khuyến cáo sàng lọc ở người không có triệu chứng [2] [16].

Vấn đề chính là kháng thuốc. Dấu ấn kháng nhóm macrolide ở vi khuẩn này dao động 44–90% tại Mỹ, Canada, Tây Âu và Úc [2]; hiện chưa có số liệu tương ứng cho Việt Nam trong các nguồn chúng tôi đã kiểm. Vì vậy hướng dẫn châu Âu nhấn mạnh việc chọn thuốc dựa trên xét nghiệm gen kháng macrolide [16].

Trichomonas (trùng roi)

Trichomonas vaginalis là ký sinh trùng đơn bào, được CDC xem là nguyên nhân lây truyền qua đường tình dục không do virus phổ biến nhất thế giới [2]. Phần lớn người nhiễm có rất ít hoặc không có triệu chứng ở vùng sinh dục. Soi tươi dịch âm đạo có độ nhạy thấp (44–68%), nên xét nghiệm khuếch đại axit nucleic được ưu tiên khi có điều kiện [2].

Theo Bộ Y tế, người nhiễm dù không triệu chứng vẫn được điều trị, và cần điều trị cả bạn tình [5]. Trichomonas còn liên quan đến tăng khoảng 1,5 lần nguy cơ nhiễm HIV; đây là mối liên quan quan sát được, không phải quan hệ nhân quả tuyệt đối [2].

Nhóm bệnh do virus: herpes sinh dục, HPV và sùi mào gà, HIV, viêm gan B

Điểm chung của nhóm này là chưa có thuốc loại bỏ hoàn toàn virus, nên mục tiêu là kiểm soát triệu chứng, giảm lây và theo dõi biến chứng. Vắc-xin (HPV, viêm gan B) vì thế đặc biệt có giá trị.

Herpes sinh dục

Herpes sinh dục là bệnh mạn tính, có đợt tái phát, do HSV-2 và ngày càng nhiều do HSV-1 qua quan hệ miệng–sinh dục [2] [5]. Virus có thể thải qua da niêm mạc ngay cả khi không có tổn thương, nên người nhiễm vẫn có thể lây cho bạn tình dù không có triệu chứng [2] [5]. Phần lớn người nhiễm HSV-2 chưa từng được chẩn đoán [5].

Hiện chưa có thuốc chữa khỏi hẳn herpes. Thuốc kháng virus theo chỉ định giúp rút ngắn đợt bệnh, giảm mức độ nặng và giảm phát tán virus; với người tái phát nhiều, điều trị ức chế làm giảm tần suất tái phát [2] [5]. Loại thuốc, liều lượng và thời gian dùng do bác sĩ chỉ định sau khi khám. Một điều giúp nhiều người bớt lo: theo Viện Hàn lâm Da liễu Hoa Kỳ (AAD), herpes sinh dục không làm tăng nguy cơ mắc bất kỳ loại ung thư nào [20]. Những ngộ nhận thường gặp được giải thích trong bài những hiểu lầm về herpes simplex.

HPV và sùi mào gà

Khoảng 90% sùi mào gà do HPV type 6 hoặc 11, là các type không gây ung thư [2] [5]. Hầu hết người nhiễm HPV không có biểu hiện gì, nhưng vẫn có thể lây, kể cả khi không nhìn thấy mụn [21] [5]. Mụn sùi có thể xuất hiện nhiều tháng đến nhiều năm sau khi nhiễm, nên thường không xác định được thời điểm và người lây [2].

Đây là điều nhiều người chưa biết: nhiễm HPV dưới lâm sàng thường tự sạch, và không có thuốc kháng virus nào “diệt” hay “đào thải” được HPV [2]. Hướng dẫn Bộ Y tế viết rõ mục đích điều trị là loại bỏ tổn thương, không phải tiêu diệt virus, và tái phát có thể xảy ra với mọi phương pháp [5]. Nếu không điều trị, sùi mào gà có thể tự thoái lui, giữ nguyên hoặc tăng dần về kích thước và số lượng [17] [5].

Sùi mào gà được chẩn đoán chủ yếu bằng khám lâm sàng; xét nghiệm HPV không được khuyến cáo để chẩn đoán sùi [17] [5]. Tổn thương dễ chảy máu, loét hoặc lan sâu cần được sinh thiết, vì tổn thương tiền ung thư có thể bị nhầm với sùi [5]. Xem thêm bài bệnh sùi mào gà.

HPV và ung thư

Gần như mọi ca ung thư cổ tử cung do HPV nguy cơ cao, riêng type 16 và 18 chiếm khoảng 76%; năm 2024 thế giới có khoảng 604.000 ca mới và 280.000 ca tử vong [22]. Tại Việt Nam, báo cáo ICO/IARC năm 2023 ghi nhận 4.132 ca mới và 2.223 ca tử vong mỗi năm [23]. HPV cũng là nguyên nhân chính của ung thư hậu môn ở MSM [1].

Cách HPV lây và khả năng tự sạch được trình bày trong bài HPV: lây truyền, khả năng tự sạch và phòng ngừa.

HIV

Cuối năm 2025, thế giới có khoảng 41,0 triệu người sống chung với HIV [4]. Hiện chưa có thuốc chữa khỏi HIV. Tuy nhiên, người điều trị thuốc kháng virus đều đặn và có tải lượng virus không phát hiện được sẽ không lây HIV cho bạn tình qua quan hệ tình dục; nguyên tắc này thường được gọi là “Không phát hiện = Không lây truyền” (U=U) [4].

CDC khuyến cáo xét nghiệm HIV cho mọi người đến khám STI [2]; hướng dẫn Bộ Y tế cũng nêu người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục nên được tư vấn và đề nghị xét nghiệm HIV tự nguyện [9]. Điều trị HIV là điều trị chuyên khoa kéo dài; bác sĩ sẽ tư vấn cơ sở y tế phù hợp để theo dõi.

Viêm gan B

Theo WHO, khoảng 240 triệu người đang mang virus viêm gan B mạn tính (2024); hầu hết người mới nhiễm không có triệu chứng [3]. Chưa có thuốc chữa khỏi viêm gan B, nhưng đã có vắc-xin phòng bệnh [3]. Trong khám STD/STI, viêm gan B chủ yếu được đặt ra ở khâu sàng lọc, ví dụ xét nghiệm HBsAg cho thai phụ [2]; người nhiễm mạn cần được theo dõi tại cơ sở chuyên khoa phù hợp.

Triệu chứng nào nên nghi ngờ bệnh lây truyền qua đường tình dục — và vì sao có thể bỏ sót?

Không có triệu chứng nào đặc trưng riêng cho bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tuy vậy, các dấu hiệu dưới đây là lý do chính đáng để đi khám, nhất là sau một lần quan hệ không an toàn [7] [8]:

  • Ở nam: đau rát khi tiểu, tiết dịch ở dương vật, đau hoặc sưng tinh hoàn.
  • Ở nữ: thay đổi tiết dịch âm đạo, chảy máu giữa kỳ kinh hoặc sau quan hệ, đau bụng dưới, rát khi tiểu.
  • Vùng hậu môn: đau, tiết dịch, chảy máu.
  • Ở da và niêm mạc: vết loét, mụn nước, nốt sùi ở vùng sinh dục, hậu môn hoặc miệng; ban ở lòng bàn tay, bàn chân [5].
  • Toàn thân: nổi hạch, mệt, sốt kèm ban [5].

Vì sao hay bị bỏ sót?

Thứ nhất, nhiễm ở họng thường không có triệu chứng gì [7]. Thứ hai, nhiều người chỉ làm xét nghiệm nước tiểu, trong khi nhiễm có thể nằm ở họng hoặc trực tràng. Trong một nghiên cứu trên 1.489 MSM tại Hà Nội, nếu chỉ xét nghiệm ở niệu đạo thì sẽ bỏ sót gần ba phần tư ca chlamydia và lậu [24]. Kết quả này thuộc riêng nhóm MSM, nhưng cho thấy một nguyên tắc chung: bác sĩ cần biết bạn tiếp xúc ở vị trí nào để lấy mẫu đúng chỗ.

Thứ ba, triệu chứng giang mai có thể tự mất, khiến người bệnh tưởng đã khỏi [5]. Cuối cùng, không nên tự chẩn đoán qua ảnh trên mạng, vì nhiều tổn thương trông giống nhau nhưng khác nguyên nhân [25].

Nốt, hạt ở vùng kín có phải lúc nào cũng là STD? Các tình trạng dễ nhầm

Không phải mọi nốt, hạt ở vùng kín đều là bệnh lây truyền qua đường tình dục; ngược lại, một số bệnh lây lúc đầu trông rất “vô hại”. Vì vậy, tổn thương mới xuất hiện, thay đổi hoặc gây khó chịu thì nên để bác sĩ khám.

Hạt ngọc dương vật và đốm Fordyce

Theo DermNet, hạt ngọc dương vật là biến thể giải phẫu bình thường, gặp ở khoảng 8–43% nam giới; không do quan hệ tình dục, không do vệ sinh kém và không lây [26]. Đốm Fordyce là tuyến bã nằm lạc chỗ ở niêm mạc miệng hoặc sinh dục, gặp ở khoảng 80% người lớn và không phải bệnh lây qua tình dục [25].

Tuy nhiên, DermNet cũng lưu ý một số bệnh lây qua tình dục có thể trông giống đốm Fordyce lúc mới xuất hiện, nên cần được bác sĩ chẩn đoán [25]. Bạn có thể đọc thêm về đốm Fordycecách phân biệt sùi mào gà với hạt ngọc dương vật.

Gai sinh dục và sùi mào gà

Gai sinh dục ở nam (hạt ngọc) không lây và không cần điều trị [26], trong khi sùi mào gà do HPV có thể tăng dần về kích thước và số lượng [17] [5]. Hai tình trạng này đôi khi khó phân biệt bằng mắt thường, nên cần bác sĩ khám trực tiếp; bài gai sinh dục (hạt ngọc dương vật) và sùi mào gà mô tả những điểm bác sĩ thường xem xét. Ở nữ, bạn có thể đọc thêm bài gai sinh dục vùng tiền đình khi thấy các gai nhỏ ở vùng này.

Viêm quy đầu và tiết dịch âm đạo

Viêm quy đầu và bao quy đầu có nhiều nguyên nhân: nấm Candida, vi khuẩn, các bệnh lây qua tình dục, bệnh da viêm như lichen xơ, vảy nến, chàm, và cả tổn thương tiền ung thư [27]. Nguyên nhân do nấm được trình bày trong bài viêm quy đầu do nấm Candida.

Ở nữ, tiết dịch âm đạo bất thường có 4 nguyên nhân thường gặp: viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm âm đạo hiếu khí, nấm Candida và Trichomonas; trong đó chỉ Trichomonas là bệnh lây qua tình dục [28]. Chlamydia hoặc lậu ở cổ tử cung cũng có thể gây tiết dịch [28]. Ngoài ra, vùng âm hộ còn có nhiều bệnh không nhiễm trùng như lichen xơ, lichen phẳng, chàm, vảy nến [29]. Tóm lại, không phải mọi tổn thương vùng kín là STD, và ngược lại.

Khi nào nên xét nghiệm bệnh lây truyền qua đường tình dục và xét nghiệm những gì?

Câu trả lời ngắn: xét nghiệm theo nguy cơ, không theo triệu chứng. Bác sĩ sẽ hỏi về số bạn tình, kiểu quan hệ, vị trí tiếp xúc (sinh dục, miệng, hậu môn), việc dùng bao cao su và tình trạng mang thai, rồi mới chọn xét nghiệm.

Ai nên xét nghiệm, bao lâu một lần?

Hướng dẫn của CDC Hoa Kỳ (2021) khuyến cáo [2] [30]:

  • Mọi người đến khám STI: xét nghiệm HIV.
  • Nữ hoạt động tình dục dưới 25 tuổi: sàng lọc chlamydia và lậu hằng năm.
  • MSM: ít nhất hằng năm, gồm chlamydia và lậu ở đủ vị trí tiếp xúc, giang mai, HIV.
  • Phụ nữ mang thai: giang mai, HIV và viêm gan B (HBsAg) ở lần khám thai đầu tiên.

Các hướng dẫn không hoàn toàn thống nhất. Hướng dẫn châu Âu năm 2025 về chlamydia nhấn mạnh giá trị hạn chế của sàng lọc rộng ở người không triệu chứng [15]. Hướng dẫn Bộ Y tế Việt Nam khuyến cáo khám sàng lọc định kỳ theo nhóm có nguy cơ cao, không theo độ tuổi [5]. Vì vậy, lịch xét nghiệm phù hợp nhất là lịch bác sĩ đưa ra theo nguy cơ của chính bạn.

Cũng có những xét nghiệm không nên làm đại trà: CDC không khuyến cáo sàng lọc huyết thanh herpes (HSV-2) thường quy ở dân số chung, và không sàng lọc Mycoplasma genitalium ở người không triệu chứng [30].

Xét nghiệm sau quan hệ bao lâu thì tin được?

Đây là câu hỏi được hỏi nhiều nhất, và cũng là chỗ dễ hiểu sai nhất. Mỗi bệnh và mỗi loại xét nghiệm có thời điểm phát hiện được khác nhau. Xét nghiệm làm quá sớm sau phơi nhiễm có thể cho kết quả âm tính dù đã nhiễm. Chẳng hạn, xét nghiệm huyết thanh giang mai có thể âm tính giả ở giai đoạn sớm, nên bác sĩ có thể hẹn xét nghiệm lại [5]; với HIV, kết quả âm tính ngay sau một lần phơi nhiễm gần đây cũng cần được làm lại theo hẹn [4].

Vì vậy, bác sĩ sẽ hẹn thời điểm xét nghiệm và thời điểm xét nghiệm lại tùy bệnh và tùy loại xét nghiệm. Ba điều cần nhớ:

  • Thời gian ủ bệnh không phải là “thời điểm xét nghiệm”. Hết thời gian ủ bệnh không có nghĩa là xét nghiệm lúc đó chắc chắn chính xác.
  • Không có câu “sau X ngày âm tính là chắc chắn không nhiễm” áp dụng chung cho mọi bệnh.
  • Không có một xét nghiệm hay một “gói” nào loại trừ được mọi bệnh lây truyền qua đường tình dục. Mỗi bệnh cần xét nghiệm riêng, đôi khi ở nhiều vị trí lấy mẫu.
Ống máu, cốc nước tiểu và que lấy mẫu vô trùng dùng khi xét nghiệm bệnh lây truyền qua đường tình dục
Vị trí lấy mẫu phụ thuộc vào vị trí tiếp xúc; bác sĩ quyết định loại xét nghiệm và thời điểm xét nghiệm.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục được điều trị như thế nào? (nguyên tắc chung)

Điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục đi theo tác nhân gây bệnh, và mỗi bệnh có phác đồ riêng. Hướng dẫn quốc tế và hướng dẫn Bộ Y tế Việt Nam có thể khác nhau về thuốc cụ thể, nên phác đồ cho từng người do bác sĩ chọn sau khi có chẩn đoán [5] [2]. Liều lượng và thời gian dùng thuốc do bác sĩ chỉ định sau khi khám.

Nhóm bệnhHướng điều trị (nhóm thuốc/phương pháp)Nguồn
Giang mai, lậu, chlamydia, Mycoplasma genitaliumKháng sinh đúng loại theo bệnh; với lậu và Mycoplasma genitalium, việc chọn thuốc ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu kháng thuốc[2] [14] [16]
TrichomonasThuốc kháng ký sinh trùng; điều trị cả bạn tình[2] [5]
Herpes sinh dụcThuốc kháng virus để kiểm soát đợt bệnh; không chữa khỏi hẳn[2] [5]
Sùi mào gàLoại bỏ tổn thương: thuốc bôi theo chỉ định, đốt lạnh, hóa chất do nhân viên y tế thực hiện, laser, cắt hoặc đốt điện[17] [5]
HIV, viêm gan BĐiều trị và theo dõi chuyên khoa lâu dài[3] [4]

Bốn nguyên tắc quan trọng hơn cả tên thuốc

  1. Không tự mua kháng sinh. Mỗi bệnh cần đúng loại thuốc, và kháng thuốc đang tăng [14].
  2. Tuân thủ đến hết đợt điều trị, kể cả khi triệu chứng đã hết, và khám lại theo hẹn [9] [5].
  3. Khám và điều trị bạn tình để tránh “ping-pong”, tức lây qua lây lại giữa hai người [2] [5]. Kiêng quan hệ tình dục cho tới khi cả bạn và bạn tình đã điều trị xong và hết tổn thương, theo hướng dẫn của bác sĩ [2] [5].
  4. Xét nghiệm lại để phát hiện tái nhiễm. CDC khuyến cáo xét nghiệm lại khoảng 3 tháng sau điều trị với chlamydia, lậu và Trichomonas (ở nữ) [2]; hướng dẫn Bộ Y tế cũng yêu cầu người bệnh chlamydia khám lại theo hẹn, bất kể bạn tình đã điều trị hay chưa [5]. Nếu vẫn còn triệu chứng sau khi hoàn thành điều trị, bạn nên tái khám sớm [5].

Bao cao su và quan hệ tình dục đường miệng: bảo vệ được đến đâu?

Bao cao su: giảm nguy cơ, không loại trừ

Dùng đúng cách và nhất quán, bao cao su là một trong những biện pháp phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục hiệu quả nhất, và nên dùng cả khi quan hệ đường âm đạo, miệng và hậu môn [1]. Tuy vậy, mức bảo vệ khác nhau tùy bệnh, và các tổ chức diễn đạt không giống nhau:

  • CDC: bao cao su dùng đúng và nhất quán làm giảm, nhưng không loại trừ nguy cơ herpes, HPV và giang mai, khi vùng nhiễm được che phủ; vì HPV có thể nhiễm ở vùng không được che, bao cao su có thể không bảo vệ hoàn toàn [2].
  • WHO: bao cao su không bảo vệ được với các bệnh gây loét ngoài vùng được che phủ, như giang mai và herpes [1].
  • Bộ Y tế Việt Nam: bao cao su có hiệu quả phòng herpes nhưng không đạt 100%, và với sùi mào gà chỉ có tác dụng một phần [5].

Dữ liệu định lượng rõ nhất hiện có là cho HIV: một tổng quan Cochrane năm 2002 ghi nhận dùng bao cao su nhất quán giúp giảm nguy cơ lây HIV ở các cặp dị giới có một người nhiễm, qua quan hệ âm đạo [31]. Đây là dữ liệu cũ và chỉ áp dụng cho HIV. Với các bệnh khác, chúng tôi không đưa con số cụ thể vì chưa có nguồn đủ tin cậy. Kết luận thực tế: bao cao su giảm đáng kể nguy cơ, nhưng không thay được xét nghiệm định kỳ.

Gói bao cao su đóng kín và lọ vắc-xin cạnh nhau minh họa cách phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục
Bao cao su giảm nguy cơ nhưng không loại trừ; vắc-xin chỉ phòng đúng bệnh của nó (HPV, viêm gan B).

Quan hệ tình dục đường miệng

Quan hệ bằng miệng có thể lây lậu, chlamydia, giang mai, herpes và HPV [2] [6]. Lậu ở họng thường không triệu chứng và khó điều trị hơn lậu ở vị trí khác [2] [5]. Một tổng quan hệ thống năm 2023 gợi ý hôn sâu có thể là yếu tố nguy cơ của lậu họng; tuy nhiên cả 6 nghiên cứu đều thực hiện trên MSM tại Úc, nên chưa thể suy rộng [32]. Cách giảm nguy cơ khi quan hệ đường miệng được trình bày trong bài quan hệ tình dục đường miệng an toàn.

Vắc-xin HPV và viêm gan B: phòng được gì, chưa chứng minh được gì?

Trong các bệnh được nhắc ở bài này, HPV và viêm gan B là hai bệnh đã có vắc-xin phòng ngừa [22] [3]. Cả hai vắc-xin đều không phòng được các bệnh lây khác.

Vắc-xin HPV: hiệu quả và độ an toàn

Tổng quan Cochrane năm 2025 (60 nghiên cứu, 157.414 người) cho thấy [33]:

  • Giảm tổn thương tiền ung thư cổ tử cung (CIN2+): nguy cơ tương đối 0,70 bất kể type HPV, và 0,40 với các type có trong vắc-xin, ở nữ 15–25 tuổi.
  • Giảm sùi mào gà: nguy cơ tương đối 0,38, độ chắc chắn cao.
  • An toàn: tỷ lệ biến cố nặng gần như không khác nhóm chứng (nguy cơ tương đối 0,99), độ chắc chắn cao.
  • Giới hạn về ung thư: có 4 nghiên cứu báo cáo kết cục ung thư và không phát hiện ca nào, nhưng thời gian theo dõi chưa đủ dài để ung thư kịp xuất hiện. Vì vậy các thử nghiệm ngẫu nhiên chưa cho kết luận trực tiếp về ung thư.

Bổ sung cho giới hạn đó, một nghiên cứu quan sát toàn quốc tại Thụy Điển trên 1,67 triệu người ghi nhận tỷ suất ung thư cổ tử cung thấp hơn rõ ở nhóm tiêm trước 17 tuổi (tỷ số tỷ suất 0,12) [34]. Đây là nghiên cứu quan sát, không phải thử nghiệm ngẫu nhiên.

Vắc-xin HPV: đối tượng tiêm và tình hình ở Việt Nam

CDC khuyến cáo tiêm HPV thường quy ở tuổi 11–12 (có thể từ 9 tuổi), tiêm bù đến 26 tuổi; từ 27 đến 45 tuổi thì cùng bác sĩ cân nhắc [2]. Loại vắc-xin và lịch tiêm do cơ sở tiêm chủng tư vấn.

Tại Việt Nam, báo cáo ICO/IARC năm 2023 ghi vắc-xin HPV chưa có trong chương trình tiêm chủng quốc gia tại thời điểm báo cáo [23] [35]; hiện trạng mới nhất bạn nên hỏi cơ sở tiêm chủng.

Hai điều cần nhớ: vắc-xin HPV không điều trị sùi mào gà hay nhiễm HPV đã có, và không thay thế tầm soát ung thư cổ tử cung [33] [22].

Vắc-xin viêm gan B

Theo WHO, vắc-xin viêm gan B cho “gần 100% bảo vệ” chống lại virus [3]. CDC khuyến cáo tiêm cho mọi người chưa tiêm, chưa nhiễm, có hoạt động tình dục với hơn một bạn tình hoặc đang được khám, điều trị bệnh lây qua tình dục [2]. Lịch tiêm do cơ sở tiêm chủng hướng dẫn.

PrEP, PEP và doxy-PEP là gì? Có nên tự dùng?

Cả ba đều là biện pháp y khoa cần bác sĩ đánh giá, không phải “uống thuốc là khỏi lo”.

  • PrEP (dự phòng trước phơi nhiễm): thuốc kháng virus cho người chưa nhiễm HIV, nhằm giảm nguy cơ nhiễm HIV [4].
  • PEP (dự phòng sau phơi nhiễm): thuốc kháng virus dùng sau một lần phơi nhiễm HIV [4].
  • Quan trọng: PrEP và PEP chỉ phòng HIV, không phòng giang mai, lậu, chlamydia hay các bệnh khác. WHO khuyên nên hỏi ý kiến bác sĩ khi cân nhắc dùng PrEP hoặc PEP [4].

Doxy-PEP: bằng chứng có, nhưng có điều kiện

Doxy-PEP là cách dùng một kháng sinh nhóm tetracycline sau quan hệ để giảm nguy cơ nhiễm bệnh lây qua tình dục do vi khuẩn. Năm 2024, CDC khuyến cáo tư vấn doxy-PEP cho MSM và phụ nữ chuyển giới từng mắc bệnh lây qua tình dục do vi khuẩn trong 12 tháng qua [36]. Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên, biện pháp này giảm rõ giang mai và chlamydia, còn với lậu mức giảm thấp hơn [36].

Tuy nhiên, bức tranh không đơn giản:

  • Một tổng quan hệ thống năm 2025 (4 nghiên cứu, 1.727 người) thấy giảm rõ giang mai và chlamydia, nhưng không giảm lậu có ý nghĩa thống kê (độ chắc chắn rất thấp) [37].
  • Ở khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, tỷ lệ lậu cầu kháng nhóm tetracycline có trung vị 82,1%, làm giới hạn tiềm năng phòng lậu của doxy-PEP [38].
  • Các hướng dẫn châu Âu và Anh đặt doxy-PEP trong một chiến lược phòng ngừa toàn diện, kèm xét nghiệm định kỳ, chứ không phải biện pháp đứng một mình [39] [40].

Vì vậy, việc doxy-PEP có phù hợp với bạn hay không cần bác sĩ đánh giá dựa trên nguy cơ, tiền sử và kế hoạch xét nghiệm theo dõi; bạn không nên tự dùng.

Thông báo bạn tình, bảo mật và không kỳ thị: nên nói với bạn tình thế nào?

Thông báo cho bạn tình giúp họ được khám kịp thời và giúp bạn không bị tái nhiễm. Mục đích là chăm sóc sức khỏe cho cả hai, không phải truy tìm “ai lây cho ai”.

Nói với bạn tình như thế nào?

  • WHO khuyến cáo người được chẩn đoán giang mai nên thông báo cho bạn tình [6]; WHO năm 2024 cũng ban hành khuyến cáo riêng về dịch vụ hỗ trợ bạn tình [41].
  • Theo CDC, bạn có thể tự thông báo (trực tiếp, qua điện thoại hoặc tin nhắn), hoặc ủy quyền cho nhân viên y tế thông báo giúp [2].
  • Hướng dẫn Bộ Y tế khuyến khích người bệnh tự nguyện thông báo bạn tình; nhân viên y tế giải thích cho người bệnh hậu quả nếu bạn tình không được điều trị [9].
  • Bác sĩ sẽ cho biết những bạn tình nào cần đi khám, tùy bệnh bạn mắc.

Không kỳ thị và tôn trọng riêng tư

Về phía người thầy thuốc, CDC nhấn mạnh việc hỏi tiền sử tình dục cần sự tôn trọng, thấu cảm và không phán xét [2]. Hướng dẫn Bộ Y tế cũng yêu cầu cán bộ y tế tôn trọng người bệnh, bảo đảm bí mật và riêng tư khi khám, tư vấn [9]. WHO ghi nhận nhóm bệnh này có thể kéo theo kỳ thị [1]. Mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục là một vấn đề sức khỏe, không phải thước đo đạo đức, và ngại ngùng không nên là lý do để trì hoãn đi khám.

Khi nào cần gặp bác sĩ da liễu?

Bạn nên đi khám sớm nếu có một trong các tình huống sau:

  • vết loét, mụn nước, nốt sùi mới ở vùng sinh dục, hậu môn hoặc miệng.
  • Tiết dịch bất thường, đau rát khi tiểu, đau bụng dưới, chảy máu sau quan hệ.
  • Vừa có quan hệ không an toàn (không dùng bao cao su, bao cao su bị rách, bạn tình mới chưa rõ tình trạng).
  • Bạn tình được chẩn đoán một bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Đang mang thai hoặc chuẩn bị mang thai.
  • hạt, nốt vùng kín mà bạn không chắc là gì, hoặc tổn thương thay đổi.
  • Đã điều trị nhưng triệu chứng còn hoặc tái lại.
  • Đã tự dùng kháng sinh mà chưa được xét nghiệm.

Quan trọng hơn: vì nhiều ca không có triệu chứng, bạn nên khám và xét nghiệm theo nguy cơ, kể cả khi thấy hoàn toàn bình thường [2] [1]. Bác sĩ da liễu sẽ khám, tư vấn loại xét nghiệm và thời điểm xét nghiệm phù hợp. Với HIV và viêm gan B, bác sĩ sẽ tư vấn cơ sở y tế phù hợp để theo dõi, điều trị lâu dài.

Câu hỏi thường gặp về bệnh lây truyền qua đường tình dục

STD (STI) là gì, có phải bệnh nào cũng có triệu chứng rõ ràng không?

STD/STI là nhóm bệnh lây qua quan hệ tình dục do vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng; WHO nêu 8 tác nhân chính [1]. Không phải bệnh nào cũng có triệu chứng: phần lớn ca mới mắc không có dấu hiệu gì, và khi có thì thường không đặc hiệu [1]. Vì vậy không có triệu chứng không có nghĩa là không nhiễm.

Có bao nhiêu người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, ở Việt Nam thì sao?

WHO ước tính năm 2020 có 374 triệu ca mới của 4 bệnh chữa được ở người 15–49 tuổi [1]. Việt Nam chưa có số liệu cho dân số chung; dữ liệu hiện có chỉ thuộc từng nhóm, như giang mai ở MSM trong giám sát trọng điểm 7 tỉnh tăng từ 2,7% (2015) lên 12,6% (2020) [11]. Không nên suy đây là tỷ lệ chung của người Việt.

Không có triệu chứng có cần xét nghiệm không, và nên xét nghiệm khi nào?

Có, nếu bạn có nguy cơ, vì nhiều ca không có triệu chứng. Ví dụ, CDC khuyến cáo xét nghiệm HIV cho mọi người đến khám STI [2]. Về thời điểm, mỗi bệnh và mỗi loại xét nghiệm phát hiện được ở thời điểm khác nhau; làm quá sớm có thể âm tính giả. Vì vậy bác sĩ sẽ hẹn ngày xét nghiệm và ngày xét nghiệm lại phù hợp với bạn.

STD/STI có chữa khỏi được không, có cần điều trị cả bạn tình?

Giang mai, lậu, chlamydia và Trichomonas chữa khỏi được bằng thuốc do bác sĩ chỉ định; herpes, HIV và viêm gan B chưa có thuốc chữa khỏi hẳn nhưng kiểm soát được [1] [3] [4]. Có: bạn tình nên được khám và điều trị để tránh lây qua lây lại, và hai người kiêng quan hệ tới khi cả hai điều trị xong [2].

Đốm Fordyce hay hạt ngọc dương vật có phải sùi mào gà hoặc bệnh lây không?

Không. Hạt ngọc dương vật là biến thể giải phẫu bình thường, không lây [26]; đốm Fordyce là tuyến bã lạc chỗ, cũng không phải bệnh lây qua tình dục [25]. Tuy vậy, một số bệnh lây có thể trông giống lúc mới xuất hiện [25], nên tổn thương mới, thay đổi hoặc gây khó chịu vẫn cần bác sĩ khám.

Bao cao su và vắc-xin có phòng được hết các bệnh này không?

Không. Bao cao su dùng đúng và nhất quán giảm nguy cơ nhiều bệnh, nhưng không loại trừ, nhất là với giang mai, herpes và HPV ở vùng không được che [2] [1]. Vắc-xin chỉ phòng đúng bệnh của nó: HPV hoặc viêm gan B [3] [33]. Vì vậy vẫn cần kết hợp bao cao su với xét nghiệm theo nguy cơ.

PrEP, PEP và doxy-PEP là gì, có nên tự dùng không?

PrEP và PEP là thuốc kháng virus dùng trước hoặc sau phơi nhiễm HIV; chúng chỉ phòng HIV, và WHO khuyên hỏi bác sĩ trước khi dùng [4]. Doxy-PEP là kháng sinh dùng sau quan hệ, chỉ được CDC khuyến cáo tư vấn cho một số nhóm nguy cơ cao [36], và tác dụng với lậu chưa chắc chắn [37]. Không nên tự dùng; không tự mua kháng sinh để dùng sau quan hệ khi chưa có bác sĩ đánh giá.

Tài liệu tham khảo

  1. World Health Organization. Sexually transmitted infections (STIs) — Fact sheet. Cập nhật 10/09/2025. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/sexually-transmitted-infections-(stis)
  2. Workowski KA, Bachmann LH, Chan PA, et al. Sexually Transmitted Infections Treatment Guidelines, 2021. MMWR Recomm Rep. 2021;70(4):1-187. doi:10.15585/mmwr.rr7004a1 · PMID 34292926
  3. World Health Organization. Hepatitis B — Fact sheet. 28/07/2026. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hepatitis-b
  4. World Health Organization. HIV and AIDS — Fact sheet. 27/07/2026. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hiv-aids
  5. Bộ Y tế. Quyết định số 4416/QĐ-BYT ngày 06/12/2023 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị các bệnh Da liễu” (chương 7: Bệnh lây truyền qua đường tình dục). Hà Nội, 2023. Bản đăng: https://benhvienhatrung.vn/wp-content/uploads/2024/02/quyet-dinh-4416-qd-byt-2023-huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-cac-benh-da-lieu.pdf
  6. World Health Organization. Syphilis — Fact sheet. 29/05/2025. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/syphilis
  7. World Health Organization. Chlamydia — Fact sheet. 21/11/2025. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/chlamydia
  8. World Health Organization. Gonorrhoea (Neisseria gonorrhoeae infection) — Fact sheet. 22/10/2025. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/gonorrhoea-(neisseria-gonorrhoeae-infection)
  9. Bộ Y tế. Quyết định số 4568/QĐ-BYT ngày 14/11/2013 về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Hà Nội, 2013. Bản đăng: https://benhvienhatrung.vn/wp-content/uploads/2022/06/4568-2013-HDDT-cac-benh-lay-truyen-qua-duong-tinh-duc.pdf
  10. Harfouche M, AlMukdad S, Alareeki A, et al. Estimated global and regional incidence and prevalence of HSV infections and genital ulcer disease in 2020: mathematical modelling analyses. Sex Transm Infect. 2025;101:214-223. doi:10.1136/sextrans-2024-056307 · PMID 39658199
  11. Nguyen HTT, Nguyen LT, Hoang HTT, et al. Increase in HIV and syphilis prevalence and incidence among MSM, Vietnam 2015-2020. Int J STD AIDS. 2024;35:197-205. doi:10.1177/09564624231214583 · PMID 37967472
  12. Adamson PC, Bui HTM, Pham LQ, et al. Routine testing for chlamydia and gonorrhea in an HIV PrEP program in Hanoi, Vietnam. AIDS. 2025;39:1152-1160. doi:10.1097/qad.0000000000004203 · PMID 40334065
  13. Tran VC, Nguyen SH, Bui HT, Pham TD, Van Nguyen AT. Impact of Gender, Location, and Seasonality on the Prevalence of Gonorrhea and Chlamydia Co-infections in Northern Vietnam. Indian J Microbiol. 2025;65:1748-1756. doi:10.1007/s12088-024-01301-x · PMID 41180874
  14. World Health Organization. Multi-drug resistant gonorrhoea — Fact sheet. 22/10/2025. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/multi-drug-resistant-gonorrhoea
  15. White JA, Dukers-Muijrers NH, Hoebe CJ, et al. 2025 European guideline on the management of Chlamydia trachomatis infections. Int J STD AIDS. 2025;36:434-449. doi:10.1177/09564624251323678 · PMID 40037375
  16. Jensen JS, Cusini M, Gomberg M, et al. 2021 European guideline on the management of Mycoplasma genitalium infections. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2022;36:641-650. doi:10.1111/jdv.17972 · PMID 35182080
  17. Centers for Disease Control and Prevention. STI Treatment Guidelines, 2021 (bản web): Anogenital warts. https://www.cdc.gov/std/treatment-guidelines/anogenital-warts.htm
  18. Kittiyaowamarn R, Sangprasert P, Girdthep N, et al. Sự xuất hiện của các chủng lậu cầu mang gen penA-60 kháng một kháng sinh nhóm cephalosporin, Thái Lan, 2025 (tạm dịch tiêu đề). Emerg Infect Dis. 2026;32:985-989. doi:10.3201/eid3206.251860 · PMID 42103068
  19. Adamson PC, Van Le H, Le HHL, et al. Trends in antimicrobial resistance in Neisseria gonorrhoeae in Hanoi, Vietnam, 2017-2019. BMC Infect Dis. 2020;20:809. doi:10.1186/s12879-020-05532-3 · PMID 33153450
  20. American Academy of Dermatology. Genital herpes: Overview. https://www.aad.org/public/diseases/a-z/genital-herpes-overview
  21. American Academy of Dermatology. Genital warts: Overview. https://www.aad.org/public/diseases/a-z/genital-warts-overview
  22. World Health Organization. Cervical cancer — Fact sheet. 03/07/2026. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/cervical-cancer
  23. ICO/IARC Information Centre on HPV and Cancer. Viet Nam — Human Papillomavirus and Related Cancers, Fact Sheet 2023 (10/03/2023). https://hpvcentre.net/statistics/reports/VNM_FS.pdf
  24. Adamson PC, Bhatia R, Tran KDC, et al. Prevalence, Anatomic Distribution, and Correlates of CT and NG Infections Among MSM in Hanoi. Sex Transm Dis. 2022;49:504-510. doi:10.1097/olq.0000000000001626 · PMID 35312657
  25. Ngan V, Oakley A. Fordyce spots. DermNet. https://dermnetnz.org/topics/fordyce-spots
  26. Duffill M. Pearly penile papules. DermNet. https://dermnetnz.org/topics/pearly-penile-papules
  27. Edwards SK, Shashidharan P, Fernando I, et al. BASHH national guideline on the management of balanoposthitis (and related penile skin conditions) 2026. Int J STD AIDS. 2026;37:969-983. doi:10.1177/09564624261452757 · PMID 42216889
  28. Sherrard J, Wilson J, Donders G, Mendling W, Jensen JS. 2018 European (IUSTI/WHO) guideline on the management of vaginal discharge. Int J STD AIDS. 2018;29:1258-1272. doi:10.1177/0956462418785451 · PMID 30049258
  29. Edwards SK, Lewis F, Fernando I, Haddon L, Grover D. 2024 BASHH UK national guideline on the management of vulval conditions. Int J STD AIDS. 2025;36:346-371. doi:10.1177/09564624241311629 · PMID 39837649
  30. Centers for Disease Control and Prevention. STI Treatment Guidelines, 2021 (bản web): Screening recommendations. https://www.cdc.gov/std/treatment-guidelines/screening-recommendations.htm
  31. Weller S, Davis K. Condom effectiveness in reducing heterosexual HIV transmission. Cochrane Database Syst Rev. 2002:CD003255. doi:10.1002/14651858.cd003255 · PMID 11869658
  32. Charleson F, Tran J, Kolobaric A, et al. A Systematic Review of Kissing as a Risk Factor for Oropharyngeal Gonorrhea or Chlamydia. Sex Transm Dis. 2023;50:395-401. doi:10.1097/olq.0000000000001777 · PMID 36735907
  33. Bergman H, Henschke N, Arevalo-Rodriguez I, et al. HPV vaccination for the prevention of cervical cancer and other HPV-related diseases: a network meta-analysis. Cochrane Database Syst Rev. 2025;11:CD015364. doi:10.1002/14651858.cd015364.pub2 · PMID 41276263
  34. Lei J, Ploner A, Elfström KM, et al. HPV Vaccination and the Risk of Invasive Cervical Cancer. N Engl J Med. 2020;383:1340-1348. doi:10.1056/nejmoa1917338 · PMID 32997908
  35. Ministry of Health of Viet Nam, Maternal and Child Health Department. National Action Plan on Cervical Cancer Prevention and Control, 2016–2025. 2016. https://www.iccp-portal.org/sites/default/files/2026-01/vnm-cc-10-02-plan-strategy-2016-eng-action-plan-on-cervical-cancer-2016-2025.pdf
  36. Bachmann LH, Barbee LA, Chan P, et al. Hướng dẫn lâm sàng của CDC về dự phòng sau phơi nhiễm bằng kháng sinh nhóm tetracycline (doxy-PEP) để phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục do vi khuẩn, Hoa Kỳ, 2024 (tạm dịch tiêu đề). MMWR Recomm Rep. 2024;73(2):1-8. doi:10.15585/mmwr.rr7302a1 · PMID 38833414
  37. Sokoll PR, Migliavaca CB, Döring S, et al. Hiệu quả của dự phòng sau phơi nhiễm bằng kháng sinh (doxy-PEP) trong giảm nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục: tổng quan hệ thống và phân tích gộp (tạm dịch tiêu đề). Sex Transm Infect. 2025;101:59-67. doi:10.1136/sextrans-2024-056208 · PMID 39097410
  38. Do K, Unemo M, Kenyon C, Hocking JS, Kong FYS. Ước tính toàn cầu về lậu cầu kháng nhóm tetracycline và tác động lên doxy-PEP: tổng quan hệ thống (tạm dịch tiêu đề). JAC-Antimicrob Resist. 2025;7:dlaf120. doi:10.1093/jacamr/dlaf120 · PMID 40636396
  39. Sherrard J, Gokengin D, Winter A, et al. Tuyên bố quan điểm của IUSTI châu Âu về dự phòng sau phơi nhiễm bằng kháng sinh (doxy-PEP): tháng 6/2024 (tạm dịch tiêu đề). Int J STD AIDS. 2024;35:1087-1089. doi:10.1177/09564624241273801 · PMID 39167417
  40. Saunders J, Deering J, Dewsnap C, et al. Hướng dẫn quốc gia của BASHH (Anh) về dùng doxy-PEP để phòng giang mai, 2025 (tạm dịch tiêu đề). Int J STD AIDS. 2025;36:756-764. doi:10.1177/09564624251352053 · PMID 40505019
  41. World Health Organization. Updated recommendations for the treatment of N. gonorrhoeae, C. trachomatis and T. pallidum (syphilis), and new recommendations on syphilis testing and partner services. 2024. https://www.who.int/publications/i/item/9789240090767 · PMID 39137269

Miễn trừ trách nhiệm y khoa: Bài viết mang tính giáo dục sức khỏe, không thay thế việc thăm khám, chẩn đoán và chỉ định điều trị của bác sĩ. Các thuốc và thủ thuật nhắc đến trong bài đều cần chỉ định của bác sĩ; bài viết không nêu liều dùng và không khuyến khích tự điều trị. Nếu bạn có triệu chứng nghi ngờ, hãy đến cơ sở y tế chuyên khoa da liễu để được đánh giá trực tiếp.

Chia sẻ:

Tác giả bài viết

BSCKII.Trương Lê Đạo

Giám đốc Chuyên môn – Phòng Khám Da Liễu Anh Mỹ

Với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực da liễu25 năm thực hiện phẫu thuật da chuyên sâu, BS Trương Lê Đạo là một trong những chuyên gia đầu ngành trong điều trị các bệnh lý về da, bệnh lây qua đường tình dụcthẩm mỹ da hiện đại.

Trước khi đảm nhiệm vai trò Giám Đốc Chuyên Môn tại Phòng Khám Da Liễu Anh Mỹ, bác sĩ Đạo từng có hơn 10 năm làm việc tại khu VIP của Phòng khám Bệnh viện Da Liễu TP.HCM – nơi đòi hỏi không chỉ chuyên môn vững vàng mà còn khả năng giao tiếp, tư vấn và chăm sóc tận tâm cho các bệnh nhân cao cấp.

Tìm hiểu thêm về bác sĩ Trương Lê Đạo

Các bài viết chuyên ngành trên Slideshare

Cần tư vấn da liễu chuyên sâu?

Đặt lịch thăm khám trực tiếp với BSCKII Trương Lê Đạo, BSCKII Trương Lê Anh Tuấn, BSCKII Nguyễn Hữu Hà

Đặt lịch qua Zalo

Bài viết cùng danh mục

Bác sĩ tư vấn kết quả xét nghiệm Mycoplasma genitalium kháng thuốc cho người bệnh viêm niệu đạo dai dẳngMycoplasma Genitalium Kháng Thuốc: Xét Nghiệm Và Điều Trị

Mycoplasma genitalium đứng sau khoảng 40% ca viêm niệu đạo dai dẳng hoặc tái phát,…

Bác sĩ tư vấn cho phụ nữ trẻ bị viêm cổ tử cung dai dẳng còn khí hư kéo dài sau điều trịViêm Cổ Tử Cung Dai Dẳng: Vì Sao Điều Trị Mãi Chưa Khỏi?

Khí hư bất thường và ra máu sau giao hợp còn kéo dài sau khi…

Người bệnh viêm niệu đạo tái phát tư vấn với bác sĩ da liễu sau đợt điều trị kháng sinhViêm Niệu Đạo Tái Phát: Vì Sao Uống Kháng Sinh Vẫn Chưa Hết?

Viêm niệu đạo tái phát dù đã uống kháng sinh? Bác sĩ da liễu Anh…

Chlamydia Không Triệu Chứng: 70% Không Biết Mình Đang Mắc Bệnh

Bác sĩ Da Liễu Anh Mỹ giải thích: 70% bệnh nhân mắc chlamydia không triệu…

Bệnh Lây Truyền Qua Tình Dục (STDs): Tất Cả Những Gì Bạn Cần Biết

STDs là bệnh lây truyền qua đường tình dục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức…

Chat